■ Các khái niệm liên quan đến lõi sắt
(1) Diện tích mặt cắt ngang hình học: đề cập đến diện tích mặt cắt ngang của không gian do lõi sắt chiếm giữ.
(2) Diện tích mặt cắt hiệu dụng: đề cập đến diện tích mặt cắt thực tế của tấm thép silic thu được bằng cách trừ đi khoảng cách giữa các tấm thép silic và diện tích chiếm bởi độ dày của lớp sơn cách điện khỏi diện tích mặt cắt hình học.
(3) Hệ số cán màng: đề cập đến tỷ lệ giữa diện tích mặt cắt ngang hiệu dụng của lõi và diện tích mặt cắt ngang hình học. Hệ số cán màng liên quan đến độ dày và độ phẳng của tấm thép silic và độ dày của lớp cách điện giữa các tấm. Ví dụ, khi sử dụng tấm thép silic dày 0,35mm, hệ số cán màng thường nằm trong khoảng 0,91-0,96.
(4) Hệ số lấp đầy: còn được gọi là hệ số sử dụng, nó đề cập đến tỷ lệ giữa diện tích mặt cắt ngang của cột lõi sắt được cấu tạo từ hình thang với diện tích đường tròn ngoại tiếp của cột lõi. Dưới một đường kính nhất định, diện tích mặt cắt ngang của cột lõi càng lớn, tức là số bậc càng nhiều thì hệ số lấp đầy càng lớn. Tuy nhiên, càng nhiều bậc thì các thông số kỹ thuật của các lớp càng phức tạp, điều này làm phức tạp quá trình sản xuất lõi.

■ Phương pháp ghép nối tấm thép silic
Khi ghép các lõi máy biến áp, có ba phương pháp nối các tấm thép silic như sau.
Đường nối trực tiếp - chỉ dành cho tấm thép silic cán nóng
Như thể hiện trong Hình 1, đặc điểm của nó là quá trình gia công và cán tương đối thuận tiện, diện tích chồng lấp lớn, do đó lõi sắt cán có độ bền cấu trúc tốt, tính toàn vẹn cao và không dễ bị biến dạng, nhưng chỉ có thể sử dụng cho thép silic cán nóng. Nếu sử dụng cho thép silic định hướng cán nguội có tính chất từ tốt dọc theo hướng cán, vì từ thông tại đường nối không đi theo hướng cán, nên tính chất từ sẽ bị suy giảm, dẫn đến tăng tổn hao không tải.
Các mối nối bán thẳng và bán vát - dành cho tấm thép silic định hướng hạt cán nguội

Như thể hiện trong hình 2, nó được sử dụng cho tấm thép silic định hướng hạt cán nguội. Đặc điểm của loại đường hàn này là đường hàn trực tiếp và đường hàn vát xuất hiện xen kẽ trong lớp lõi. Khi chiều rộng của tấm lõi và tấm gọng sắt bằng nhau, đường hàn vát là 45°. Ở 50% các góc, tính chất từ tính được cải thiện đáng kể so với đường hàn trực tiếp, cấu trúc đáng tin cậy, việc cắt và xếp chồng cũng thuận tiện, và tỷ lệ sử dụng tấm thép silic cao. Tuy nhiên, vì vẫn còn một phần đường hàn trực tiếp, tính định hướng của tấm thép silic định hướng hạt cán nguội không được tận dụng hết, do đó tổn thất không tải của lõi sắt không thể được giảm thiểu.

Mối nối vát toàn phần - dành cho tấm thép silic định hướng hạt cán nguội
Như thể hiện trong Hình 3. Để giảm thiểu hơn nữa tổn hao không tải của lõi sắt và tận dụng tối đa đặc tính của tấm thép silic định hướng cán nguội, cần sử dụng các mối nối xiên hoàn toàn, sao cho hướng từ thông phù hợp với hướng cán của tấm thép silic và giảm thiểu tổn hao lõi. Tuy nhiên, quy trình hàn kiểu này phức tạp và tính toàn vẹn của lõi sắt xếp chồng kém.


